Asperger 18-1-2016


Hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao (Asperger Syndrome/HFA) là gì?

đăng 11:10, 28 thg 7, 2013 bởi Đào Linh [ đã cập nhật 23:53, 6 thg 2, 2015 ]












Viện rối loạn thần kinh và đột quị quốc gia (National Institute of Neurological Disorders and Stroke – NINDS), một phân nhánh của Viện y tế quốc gia (National Institute of Health), định nghĩa hội chứng Asperger như sau:
Những lề thói hoặc nghi thức lặp đi lặp lại
Ngôn ngữ và lời nói kì lạ, ví dụ như nói năng trịnh trọng thái quá bằng một giọng đều đều, hoặc hiểu lời nói theo nghĩa đen,
hành vi không thích hợp về mặt xã hội và cảm xúc và thiếu khả năng tương tác với bạn bè cùng lứa,
gặp khó khăn trong giao tiếp không lời, bao gồm hạn chế trong việc sử dụng những cử chỉ điệu bộ, khả năng biểu cảm nét mặt bị hạn chế hoặc không thích hợp, hoặc hay nhìn chằm chằm một cách kì lạ, mất tự nhiên,
cử động vụng về và thiếu nhịp nhàng.


Dưới đây là lịch sử hội về hội chứng Asperger do Viện rối loạn thần kinh và đột quị quốc gia viết ra, mà chúng tôi hi vọng sẽ giúp bạn hiểu thêm về chứng rối loạn này và ý nghĩa của nó đối với bạn và gia đình bạn:


Năm 1944, một bác sĩ nhi khoa người Áo tên là Hans Asperger trong khi hành nghề đã quan sát 4 đứa trẻ khó khăn trong việc hòa nhập xã hội. Dù trí tuệ của chúng không có gì bất thường, nhưng chúng lại thiếu những kĩ năng giao tiếp phi ngôn ngữ, không thể hiện sự đồng cảm với bạn bè cùng trang lứa, và cơ thể rất lóng ngóng. Cách nói năng của chúng hoặc không mạch lạc hoặc quá trịnh trọng, và chúng trò chuyện toàn chỉ về một một chủ đề mà chúng đã bị cuốn hút vào đó.


Những quan sát của Asperger được xuất bản bằng tiếng Đức vẫn chưa được biết đến rộng rãi, cho mãi đến năm 1981, khi một bác sĩ người Anh tên là Lorna Wing đem xuất bản một loạt những nghiên cứu về những đứa trẻ mắc những triệu chứng tương tự nhau, mà bà gọi là hội chứng “Asperger”. Những bài viết của bà được xuất bản và phổ biến rộng rãi. Hội chứng Asperger trở thành một tình trạng và định bệnh riêng biệt và được đặc tả từ năm 1992, thời điểm nó được bổ sung vào Cẩm nang chẩn đoán của Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization) phiên bản 10, Phân loại dịch bệnh toàn cầu (International Classification of Diseases (ICD-10), và vào năm 1994, nó được thêm vào phiên bản thứ 4 của Cẩm nang chẩn đoán và thống kê những rối loạn thần kinh (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (DSM-IV)), một tài liệu chẩn đoán tham khảo của Hiệp hội tâm thần Hoa Kì (American Psychiatric Association).


Những cá nhân được chẩn đoán mắc chứng tự kỷ hoặc rối loạn phổ tự kỷ có khả năng nhận thức bình thường, kỹ năng ngôn ngữ không bị chậm đáng kể, là những trường hợp rất giống với những trường hợp tự kỷ chức năng cao (High Functioning Autism Spectrum Disorder (HFA)) và có những triệu chứng giống nhau và được điều trị bằng những cách can thiệp giống nhau.
Những triệu chứng của hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao là gì?


Thông thường, chỉ khi trẻ đến tuổi đi học, người ta mới có chẩn đoán hội chứng Asperger. Không như chứng tự kỷ, hội chứng Asperger nói chung chỉ được nhận ra trên cơ sở những tương tác xã hội của trẻ. Trẻ mắc hội chứng Asperger vẫn phát triển ngôn ngữ bình thường và thường có vốn từ vựng trên mức trung bình. Tuy nhiên, bạn có thể để ý khi chúng tương tác với những người khác, chúng sẽ sử dụng những kĩ năng ngôn ngữ không phù hợp hoặc rất lúng túng. Bởi những kĩ năng ngôn ngữ được phát triển bình thường nên trong những giai đoạn ban đầu, những triệu chứng của hội chứng Asperger có thể rất khó phân biệt với những vấn đề về hành vi khác như tăng động giảm tập trung chú ý (attention deficit hyperactivity disorder ADHD). Hậu quả là ban đầu có thể con bạn được chẩn đoán mắc những rối loạn như tăng động giảm tập trung chú ý, cho đến khi người ta nhận ra là vấn đề là do kỹ năng xã hội khiếm khuyết chứ không phải là thiếu khả năng tập trung.


Sau đây là danh sách những triệu chứng có thể có ở trẻ mắc hội chứng Asperger:
khả năng giao lưu với mọi người kém và không phù hợp
lời nói “máy móc” hoặc lặp đi lặp lại
giao tiếp phi ngôn ngữ ở mức trung bình hoặc dưới trung bình, còn giao tiếp bằng ngôn ngữ ở mức trung bình hoặc trên trung bình
có khuynh hướng bàn luận về bản thân hơn là nói về người khác
không có khả năng hiểu những vấn đề và câu nói vốn được coi là “suy nghĩ thông thường”
không biết giao tiếp mắt hoặc đối-thoại-hai-chiều
ám ảnh bởi những chủ đề đặc dị
nói-chuyện-một-chiều
cử động và tác phong vụng về


Dấu hiệu rất rõ ràng và đặc trưng của hội chứng Asperger là bị bận tâm bởi một vấn đề cụ thể, từ những điều đơn giản như tủ lạnh hoặc thời tiết, đến những chủ đề phức tạp như tổng thống Franklin D. Roosevelt trong thời kì Đại suy thoái. Chúng trở nên chăm chú vào những đề tài này đến độ cố gắng tìm hiểu hết mức có thể từng dữ kiện và chi tiết, để rồi sau đó trở thành những chuyên gia đáng kinh ngạc. Trẻ mắc hội chứng Asperger có thể khởi đầu một cuộc nói-chuyện-một-chiều với người khác bằng cách chỉ nói về những vấn đề liên quan đến chủ đề đặc biệt ưa thích của chúng. Chúng có thể không thích thảo luận về những vấn đề khác, hoặc không thể lắng nghe và thấu hiểu những phản hồi của người khác. Con bạn có thể không nhận thấy rằng những người đối thoại với chúng đã không còn lắng nghe nữa, hoặc đã không còn thảo luận về chủ đề đó nữa.


Một triệu chứng khác của hội chứng Asperger là không có khả năng hiểu những hành động, lời nói hoặc hành vi của người khác. Những người mắc hội chứng Asperger thường không hiểu những lời nói đùa, những lời ám chỉ hoặc những hành động của người khác. Những cử chỉ hoặc biểu hiện tinh tế như mỉm cười, cau mày hoặc ra hiệu “lại đây” có thể vô nghĩa với trẻ mắc hội chứng Asperger vì chúng không nhìn thấy mối liên hệ giữa giao tiếp phi ngôn ngữ với giao tiếp bằng lời nói và ngôn ngữ. Vì không hiểu giao tiếp phi ngôn ngữ nên thế giới con người dường như rất rối rắm và quá tải đối với chúng. Nói chung, người mắc hội chứng Asperger cảm thấy rất khó để nhìn ra những quan điểm của người khác. Tình trạng này khiến họ không thể dự đoán hoặc hiểu được những hành vi của người khác. Dù không phải đúng với mọi trường hợp, nhưng thường thì những người mắc hội chứng Asperger đều gặp khó khăn trong việc điều chỉnh cảm xúc của mình.


Những người mắc hội chứng Asperger thường nói năng lúng túng hoặc bất thường. Họ có thể nói rất to, giọng đều đều, hoặc nhấn giọng một cách kì lạ. Hầu như họ không thể hiểu được những tương tác xã hội, và hậu quả là họ không thể nhận ra rằng những chủ đề đang bàn luận hoặc cách nói chuyện của họ dường như không thích hợp hoặc gây phiền hà, nhất là trong những tình huống đặc biệt. Ví dụ như trẻ bình thường quen nói to khi bước vào nhà thờ mà không biết rằng mình không được nói to như vậy nữa.


Một dấu hiệu khác của hội chứng Asperger là những cử động bất thường, hoặc kĩ năng vận động bị chậm. Họ có thể đi đứng không bình thường hoặc phối hợp các thao tác rất kém. Những người này có thể rất thông minh và bộc lộ những kĩ năng ngôn ngữ thành thạo, nhưng họ lại không bắt được bóng hoặc không biết nhún nhảy trên tấm căng lò xo, bất chấp mọi cố gắng chỉ dẫn của người khác.


Điều quan trọng cần lưu ý là không phải tất cả những người mắc hội chứng Asperger đều bộc lộ những triệu chứng trên, biểu hiện và mức độ từng triệu chứng của mỗi người là rất khác biệt tuy họ có cùng kết quả chẩn đoán. Tuy bộc lộ một số hoặc toàn bộ những triệu chứng trên nhưng trẻ tự kỷ cũng đồng thời sở hữu nhiều biệt tài.
Nguyên nhân của hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao?


Điều quan trọng luôn nhớ là rối loạn phổ tự kỷ không phải chỉ là một rối loạn với một nguyên nhân duy nhất. Đúng hơn là thuật ngữ đó đại diện cho một nhóm rối loạn có liên quan gây ra bởi nhiều nguyên nhân. Đa phần, hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao có nguyên nhân là tập hợp các nhân tố nguy cơ về gen, có tương tác với những nguy cơ từ môi trường. Có rất nhiều gen góp phần vào hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao. Người ta cho rằng những gen này có tương tác với những yếu tố môi trường. Rất nhiều nghiên cứu đang tập trung vào việc xác định cách thức mà cả hai yếu tố về di truyền và môi trường góp phần gây ra chứng tự kỷ.


Có một số quan niệm sai lầm về những người mắc hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao. Hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao không phải là do cách nuôi dạy, do cha mẹ không quan tâm, hoặc những vấn đề cảm xúc mà trẻ đã trải qua trước đó. Hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao là một loại rối loạn sinh học thần kinh, không phải là hậu quả của những vấn đề bắt nguồn từ trải nghiệm sống trong cuộc đời của trẻ.




Hội chứng Asperger và tự kỷ chức năng cao khác nhau ra sao?

đăng 23:57, 27 thg 7, 2013 bởi Đào Linh [ đã cập nhật 14:57, 31 thg 7, 2013 ]





Khi con bạn được chẩn đoán, bạn sẽ nảy sinh nhiều thắc mắc và muốn tìm kiếm câu trả lời. Một trong những thắc mắc đó là hội chứng Asperger giống và khác với những dạng rối loạn phổ tự kỷ khác ra sao? Hội chứng Asperger là một phần trong phổ tự kỷnhưng khác với tự kỷ điển hình và những rối loạn phát triển diện rộng khác ở chỗ họ phát triển ngôn ngữ sớm hơn. Sau khi con được chẩn đoán có rối loạn phổ tự kỷ, bạn cũng cần hiểu rõ những tương đồng và khác biệt giữa các dạng rối loạn trong phổ tự kỷ.


Hội chứng Asperger và tự kỷ chức năng cao thường có cùng chẩn đoán. Mặc dù hiện giờ chúng được định bệnh là hai tình trạng tách biệt nhau, nhưng người ta vẫn đang tranh luận xem có cần thiết phải phân ra như vậy không. Có thể trong tương lai chúng sẽ được nhập lại thành một. Những người mắc chứng tự kỷ chức năng cao và hội chứng Asperger thông minh ở mức trung bình hoặc trên trung bình nhưng họ có thể có khó khăn về giao tiếp và tương tác xã hội. Chẩn đoán là Asperger hay tự kỷ chức năng cao đôi khi có thể làm cha mẹ và trẻ phiền lòng vì có vẻ là thuật ngữ này chưa được định nghĩa rõ ràng. Điều cần nhớ là cả hai tình trạng này đều có biểu hiện gần giống nhau và đều được điều trị bằng các liệu pháp giống nhau. Điểm khác biệt chính ở đây là, đối với tự kỷ chức năng cao, trẻ bị chậm ngôn ngữ từ nhỏ, còn với hội chứng Asperger, trẻ không bộc lộ bất kì sự chậm phát triển ngôn ngữ nào đáng kể.
Hội chứng Asperger giống tự kỷ điển hình như thế nào?


Theo Viện rối loạn thần kinh và đột quị quốc gia (National Institute of Neurological Disorders and Stroke (NINDS)), trẻ mắc hội chứng Asperger cảm thấy khó khăn trong việc nhận ra và biểu lộ cảm xúc của mình, giống trẻ tự kỷ chức năng cao. Chúng gặp khó khăn trong việc kết nối với người khác, và thường không duy trì giao tiếp mắt và khó khăn trong việc hiểu nét mặt và cử chỉ của người khác. Nhiều trẻ Asperger thích vẩy tay, một hành vi thường thấy ở tự kỷ điển hình; hoặc nói không có biểu hiện cảm xúc (hoặc cách dùng ngôn ngữ bất thường), đòi phải làm theo lịch trình cứng nhắc, tỏ ra quan tâm đến một chủ đề mãnh liệt thậm chí ám ảnh đến độ trở thành chuyên gia trong lĩnh vực đó. Chúng cũng nhạy cảm với những kích thích khác, từ âm thanh cho đến quần áo hoặc các loại thức ăn.
Asperger/tự kỷ chức năng cao khác với tự kỷ điển hình như thế nào?


Điểm khác với tự kỷ điển hình là Asperger/tự kỷ chức năng cao là chúng có chỉ số IQ ở khoảng bình thường hoặc thậm chí đặc biệt cao. Với nhiều người, chúng trông có vẻ giống những đứa trẻ khác, nhưng không hẳn vậy: trẻ Asperger thường vụng về trong giao tiếp xã hội theo cách rất khó hiểu.


Điều này giải thích vì sao những người trong ngành y thường dễ bỏ qua các triệu chứng của hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao ở trẻ nhỏ, hoặc có thể chẩn đoán sai. Trẻ bắt đầu có những kĩ năng xã hội phức tạp, như tương tác với trẻ cùng lứa trễ muộn thì bố mẹ thường chú ý tìm kiếm trợ giúp chậm trễ hơn những phụ huynh có con bộc lộ những triệu chứng rõ rệt và sâu sắc khi trẻ còn nhỏ.




Tổng quan về chẩn đoán

đăng 23:56, 27 thg 7, 2013 bởi Đào Linh [ đã cập nhật 14:56, 31 thg 7, 2013 ]





Hội chứng Asperger và tự kỷ chức năng cao là những thuật ngữ dùng để chỉ đầu chức năng cao của phổ rối loạn phát triển diện rộng, hoặc phổ tự kỷ. Hội chứng Asperger là một nhánh tương đối mới, được chính thức công nhận trong Cẩm nang chẩn đoán và thống kê những rối loạn thần kinh (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders (DSM)) lần đầu tiên vào năm 1994. Trong tương lai, có khả năng Cẩm nang chẩn đoán và thống kê những rối loạn thần kinh sẽ kết hợp Hội chứng Asperger và tự kỷ chức năng cao thành một loại, vì những tương đồng và cách điều trị giống nhau của chúng. Vì hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao bao gồm những triệu chứng ở nhiều mức độ khác nhau, nên rất nhiều người có những tiều chí phù hợp với chẩn đoán này chỉ bị coi là “bất thường” hoặc “vụng về”, hoặc bị chẩn đoán nhầm với những chứng rối loạn khác như Rối loạn giảm tập trung chú ý (Attention Deficit Disorder)


Cẩm nang chẩn đoán và thống kê những rối loạn thần kinh, phiên bản 4 (DSM-IV) Các tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng Asperger


A. Tương tác xã hội kém, thể hiện ra ở ít nhất hai trong số các mục sau:
Khiếm khuyết đáng kể khả năng sử dụng các giao tiếp phi ngôn ngữ như dõi theo hướng nhìn của người khác, biểu cảm nét mặt, tư thế, cử chỉ thích nghi với những tương tác xã hội
Không phát triển những mối quan hệ với những đứa trẻ cùng lứa đúng với với độ tuổi
Không tự tìm cách chia sẻ niềm vui, sự thích thú hoặc những thành quả với người khác (ví dụ như không biết khoe, đem ra hoặc cho người khác xem những gì mình thích)
Thiếu khả năng giao tiếp xã hội hoặc trao đổi cảm xúc


B. Có hành vi, sở thích, và hoạt động lặp đi lặp lại, hạn hẹp và điển hình, thể hiện ra ở ít nhất một trong số các mục sau:
Chỉ bận tâm tới một hoặc vài sở thích bất thường và hạn chế, rập khuôn và lặp đi lặp lại, bất thường về cường độ hoặc độ tập trung
Cố hữu thiếu linh hoạt với những thói quen hoặc lề thói nhất định, không có ý nghĩa.
Có những động tác điển hình, lặp đi lặp lại (ví dụ như vẩy hoặc vặn bàn tay hoặc ngón tay, hoặc có những động tác toàn thân phức tạp)
Bận tâm dai dẳng với những bộ phận nào đó của đồ vật


C. Khiếm khuyết đáng kể về chức năng giao tiếp, sinh hoạt hoặc những lĩnh vực quan trọng khác


D. Không chậm phát triển đáng kể về ngôn ngữ (ví dụ, nói được những từ đơn khi lên 2, sử dụng những cụm từ giao tiếp khi lên 3)


E. Không có chậm phát triển đáng kể về mặt nhận thức hoặc những kĩ năng tự chăm sóc bản thân phù hợp với độ tuổi, hành vi thích ứng (chứ không phải tương tác xã hội), và tò mò về môi trường xung quanh lúc nhỏ.


F. Không rơi vào đúng các tiêu chí về Rối loạn phát triển diện rộng (Pervasive Developmental Disorder) cụ thể nào khác hoặc chứng tâm thần phân liệt (Schizophrenia)
Chẩn đoán hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao


Hiện nay, chưa có xét nghiệm y khoa nào cho hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao. Việc chẩn đoán vẫn dựa trên quan sát hành vi, thông qua trắc nghiệm giáo dục và tâm lí. Vì hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao có triệu chứng rất đa dạng, nên lộ trình chẩn đoán cũng đa dạng. Bạn có thể tự có những thắc mắc với bác sĩ nhi khoa. Có trẻ bị coi là chậm phát triển trước khi được chẩn đoántự kỷ hoặc hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao và có thể đã được can thiệp theo chương trình Can thiệp sớm (Early Intervention) hoặc Chương trình giáo dục đặc biệt (Special Education services). Thật không may, có những băn khoăn của các bậc phụ huynh đôi khi lại không được bác sĩ xem xét nghiêm túc và vì thế việc phát hiện định bệnh bị trễ muộn. Autism Speaks và những tổ chức liên quan đến tự kỷ vẫn đang làm việc cật lực để hướng dẫn các bậc phụ huynh và các y sĩ, giúp họ có thể phát hiện ra trẻ tự kỷ càng sớm càng tốt.


Có một số vấn đề thường gặp khi chẩn đoán hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao. Sẽ rất khó định bệnh khi trẻ mắc hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao thường vẫn có thể hoạt động tốt trong nhiều lĩnh vực của cuộc sống, và chỉ bộc lộ một vài hành vi kì lạ hoặc khác biệt. Bạn có thể nhận thấy con mình vẫn có những kĩ năng khá thành thạo trong một số lĩnh vực và rất thông minh. Những quan sát này có thể càng khó chẩn đoán sớm và hậu quả là quá trình hỗ trợ con cũng bị trễ muộn. Khi bạn tiến hành các bước chẩn đoán ra đúng vấn đề của con, cần tìm hiểu những khả năng khác nhau và tìm kiếm sự hỗ trợ.


Phụ huynh như bạn có vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo điều kiện cho việc chẩn đoán hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao của con, vì bạn là người chứng kiến sự trưởng thành và phát triển của chúng hàng ngày. Nếu con bạn bắt đầu hình thành một vài hành vi như có những mối bận tâm, những thói quen và những hoạt động ưa thích bất thường, đó có thể là thời gian thích hợp để bạn hỏi ý kiến bác sĩ nhi khoa. Nếu bác sỹ thấy cần lưu tâm, bạn sẽ được giới thiệu đến chuyên gia đánh giá cho con. Chuyên gia sẽ tìm hiểu rất chi tiết về lịch sử của con bạn, bao gồm sự phát triển, những kĩ năng ngôn ngữ và nhiều khía cạnh khác về hành vi xã hội của chúng.


Khi bác sĩ đánh giá con và xem xét khả năng con bạn có bị tự kỷ hay không, bác sỹ sẽ bỏ nhiều thời gian để hỏi về những vấn đề xã hội và phát triển của chúng. Bác sỹ rất cần biết con bạn có vấn đề gì ở trường, về kết bạn hay có khó khăn trong tương tác xã hội không. Đánh giá này sẽ cho biết con bạn đang khó khăn ở những mặt nào, cũng những mặt con bạn sẽ bộc lộ nhiều thế mạnh.


“Trải nghiệm có nhiều thách thức mà chúng tôi phải vượt qua để hỗ trợ con mình và dung hòa sự nhạy cảm sâu sắc của chúng với thế giới, cái thế giới mà đôi lúc quá đa tạp tới mức không thể chịu đựng nổi. Nhưng điều đó đem đến vô số món quà nếu bạn biết mở lòng đón nhận. Con bạn cần bạn trong cuộc đời; và thật sự là biết bao phụ huynh đã nói với tôi rằng họ đã trở thành con người tốt đẹp hơn khi họ chưa được ban tặng đứa trẻ này. Hãy yên tâm rằng, nếu bạn dành đủ sự tôn trọng, đánh giá và cơ hội, con bạn sẽ thay đổi thế giới theo chiều hướng đúng đắn, chân thật, tốt đẹp và tử tế.”

– William Stillman, Empowered Autism Parenting (Tiếp sức mạnh cho cha mẹ nuôi con tự kỷ)




Chức năng điều hành của não và Thuyết tâm ý

đăng 23:54, 27 thg 7, 2013 bởi Đào Linh [ đã cập nhật 14:55, 31 thg 7, 2013 ]





Những người mắc hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao thường phải đối mặt với những khó khăn trong việc hiểu những kỹ năng xã hội và ẩn ý từ người khác. Họ có thể gặp khó khăn trong việc xử lí một lượng lớn thông tin và kết nối với người khác. Hai thuật ngữ chính liên quan đến những khó khăn này là Chức năng điều hành của não (Executive Functioning) và Thuyết tâm ý (Theory of Mind). Chức năng điều hành của não bao gồm những kĩ năng như tổ chức, lập kế hoạch, duy trì sự chú ý và tiết chế các phản ứng không phù hợp. Thuyết tâm ý đề cập đến khả năng hiểu những suy nghĩ và cảm xúc của người khác, và những điều đó có liên hệ gì đến bản thân. Cả hai vấn đề này đều có thể ảnh hưởng đến hành vi của người mắc hội chứng Asperger.


Những khó khăn về Chức năng điều hành của não có thể thể hiện ra theo nhiều cách khác nhau. Có người quá chú ý vào những chi tiết nhỏ nhặt, nhưng không nhận ra chúng nằm ở đâu trong bức tranh toàn cảnh lớn hơn. Số khác gặp khó khăn trong việc tư duy phức tạp, đòi hỏi phải duy trì vài luồng suy nghĩ đồng thời. Số khác có thể gặp khó khăn trong việc duy trì sự chú ý, hoặc trong việc sắp xếp suy nghĩ và hành động. Chức năng điều hành của não cũng đồng thời đi kèm với sự kém kiểm soát những hành động bột phát. Temple Grandin từng nói: “Tôi không thể duy trì được thông tin về phần trước khi tôi thực hiện bước tiếp theo”. Những người mắc hội chứng Asperger thường thiếu khả năng sử dụng các kĩ năng liên quan tới chức năng điều hành của não như lập kế hoạch, lên trình tự và tự điều chỉnh.


Có thể tóm tắt Thuyết tâm ý là thiếu khả năng hiểu và nhận ra những ý nghĩ, cảm xúc và ý định của người khác. Những người mắc hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao có thể gặp phải những khó khăn trong việc nhận ra và xử lí cảm nghĩ của người khác, điều này đôi khi còn gọi là “sự vô tâm”. Hậu quả của tình trạng vô tâm là người bị tự kỷ không thể nhận ra những hành vi của người khác là có chủ tâm hay không. Vì khó khăn này mà người khác thường cho rằng người mắc hội chứng Asperger không biểu lộ sự đồng cảm và hiểu họ, khiến họ có thể vấp váp trong những tình huống xã hội.


Khiếm khuyết về Thuyết tâm ý có thể có tác động lớn đến những người mắc hội chứng Asperger. Trong cuốn sách mang tên Asperger Syndrome and Difficult Moments (Hội chứng Asperger và những thời khắc khó khăn), Brenda Smith Myles và Jack Southwick đã minh họa những thiếu hụt trong tương tác xã hội do khiếm khuyết về Thuyết tâm ý gây ra như sau:
Khó khăn trong việc lý giải hành vi của người khác
Khó khăn trong việc hiểu cảm xúc
Khó khăn trong việc dự đoán hành vi hoặc trạng thái cảm xúc của người khác
Gặp vấn đề trong việc hiểu quan điểm của người khác
Gặp vấn đề trong việc suy luận ra ý định của người khác
Không thấy được hành vi có tác động đến suy nghĩ và cảm xúc của người khác ra sao
Không biết cùng hướng đến những điều người khác đang quan tâm và những thỏa ước xã hội
Gặp vấn đề trong việc phân biệt giữa hư cấu và thực tại


Ozonoff, Dawson, và McPartland đã nêu trong cuốn sách họ viết “A Parent’s Guide to Asperger Syndrome and High Fuctioning Autism” (Cẩm nang về hội chứng Asperger và tự kỷ chức năng cao dành cho phụ huynh), vài gợi ý để giúp trẻ mắc hội chứng Asperger/tự kỷ chức năng cao có thể đi học thành công. Họ đưa ra những gợi ý sau để giải quyết những khó khăn về Chức năng điều hành của não:

Có bản danh sách các bài tập trong tuần của trường gửi về nhà và ngược lại, thông báo cho những người liên quan biết bài tập nào đang làm tiến hành và bài nào đã đến hạn hoàn thành.

Danh sách những việc được giao chia nhỏ thành những nhiệm vụ nhỏ hơn và vừa sức bao quát của học sinh.

Lịch làm việc hàng ngày, có thể sử dụng thiết bị điện tử hỗ trợ cá nhân (PDA) để giúp con bạn sắp xếp, tổ chức mọi việc.

Thời khóa biểu của lớp dán ở chỗ dễ nhìn.

Dành đủ thời gian để chỉ dẫn, lặp lại chỉ dẫn và trợ giúp cá nhân cho các học sinh.

Xếp cho học sinh ngồi ở bàn ưu tiên gần giáo viên và tránh xa những gì làm học sinh phân tâm.




Danh sách những thế mạnh và khó khăn

đăng 23:53, 27 thg 7, 2013 bởi Đào Linh [ đã cập nhật 11:44, 23 thg 9, 2015 ]






Điều quan trọng cần lưu ý rằng đây là một danh sách chung chung. Ở mỗi thế mạnh và khó khăn, bạn có thể tìm được những ví dụ chứng minh điều ngược lại. Ví dụ sự vụng về là một trong những khó khăn thường gặp. Tuy nhiên, một số người mắc hội chứng Asperger lại có những thế mạnh về vận động và giữ thăng bằng như của một nghệ sĩ múa.


(Stephen Shore)


Thế mạnh: Chú tâm vào chi tiết

Khó khăn: Nắm bắt toàn cảnh


Thế mạnh: Vô cùng thành thạo về một lĩnh vực đặc biệt nào đó

Khó khăn: Các kĩ năng không đồng đều


Thế mạnh: Nghiên cứu rất sâu đến độ thành tri thức bách khoa về các lĩnh vực quan tâm

Khó khăn: khó có động lực để tìm hiểu những lĩnh vực không hứng thú


Thế mạnh: Có khuynh hướng làm theo lí trí (tốt khi cần quyết định các vấn đề dễ bị cảm xúc xen ngang)

Khó khăn: Khó nhận biết về những trạng thái cảm xúc của người khác


Thế mạnh: Không để tâm nhiều tới những gì người khác nghĩ về mình (có thể đây là một thế mạnh hơn là một thách thức).

Khó khăn: Trong việc hiểu những quy tắc giao tiếp bất thành văn. Nhưng có thể tìm hiểu những qui tắc này thông qua chỉ dẫn trực diện và những câu chuyện xã hội kiểu Thẻ Quyền lực Power Cards (Gagnon, 2004)


Thế mạnh: Còn gọi là suy nghĩ độc lập. Nhờ thế họ thường có bức tranh toàn cảnh mới lạ vì có cách nhìn sự vật, ý tưởng và khái niệm khác biệt.

Khó khăn: Trong việc xử lý những gì họ không thích như thính giác, cảm thụ vận động, v.v.


Thế mạnh: Mạnh về tư duy trực quan (tư duy bằng hình ảnh hoặc phim ảnh)

Khó khăn: Khó khăn trong việc phân tích và tổng hợp những thông tin quan trọng trong cuộc trò chuyện.


Thế mạnh: Thường nói rất nhiều (khuynh hướng miêu tả tỉ mỉ rất hữu ích khi chỉ dẫn cho những người bị lạc đường)

Khó khăn: Vấn đề điều hòa cảm giác khiến họ lưu giữ các thông tin đầu vào không đều, sai lệch, và khó khăn trong việc lọc bỏ những tiếng ồn từ xung quanh


Thế mạnh: Thẳng thắn trong giao tiếp

Khó khăn: Quá thật thà


Thế mạnh: Trung thành

Khó khăn: Khái quát hóa các kĩ năng và khái niệm


Thế mạnh: Trung thực

Khó khăn: Khó bày tỏ sự đồng cảm theo đúng cách mọi người trông đợi hoặc hiểu được.


Thế mạnh: Lắng nghe không suy xét

Khó khăn: Khó khăn trong việc biểu lộ sự đồng cảm theo ý muốn hoặc cách hiểu của người khác


Thế mạnh: Trí thông minh trung bình hoặc trên trung bình

CÁC BƯỚC TƯ DUY VÀ TÂM SINH LÝ CỦA TRẺ BẬC PHỔ THÔNG


nguồn: http://bshohai.blogspot.com/2015/12/cac-buoc-tu-duy-va-tam-sinh-ly-cua-tre.html









Bài đọc liên quan:


+ Bạo lực học đường gắn liền với tâm lý lứa tuổi


+ Quán tính tư duy


+ Tư duy giáo dục phổ thông


+ Tư duy giáo dục đại học


+ Tư duy cách dạy và học





MỞ ĐẦU


Nền giáo dục của nước Việt ở bậc phổ thông trước năm 1975 ở miền Bắc, và cả nước Việt trước thập niên 1990 là bản sao từ sách dịch chương trình giảng dạy của Liên Xô là chủ yếu, chỉ khác một số phần ở các môn khoa học xã hội vài nét chấm phá lịch sử, địa lý nước Việt về đảng cộng sản ở Việt Nam.


Mặc dù, trong hệ thống giáo dục của nước Việt không thiếu người tài, nhưng dưới ánh sáng soi đường của đảng cộng sản cầm quyền ở Việt Nam, sách giáo khoa cho bậc phổ thông hoàn toàn sai với tư duy và tâm sinh lý phát triển về trí não trẻ, khi bộ giáo dục Việt Nam bắt đầu làm dự án "Cải cách sách giáo khoa" từ giữa thập niên 1990 trở về hôm nay.


Đây là mục tiêu của bài viết này nhằm để cho các nhà giáo dục Việt Nam hiểu thế nào về viết sách giáo khoa ở bậc phổ thông tối ưu nhất. Vì sách giáo khoa ở bậc học này là khó viết nhất, và là nền tảng để trẻ có thể đi xa, bay cao với những ước mơ, khát vọng và sáng tạo, chứ trẻ không kiệt sức khi vào đại học và tàn lụi sau khi được học bổng toàn phần du học ở phướng Tây, rồi mất hút giữa xã hội vì không có tư duy sáng tạo và tư duy phản biện.


BA BƯỚC TƯ DUY CỦA TRẺ


Tôi đã từng viết trên blog này vì sao bậc học phổ thông chia ra làm 3 cấp: tiểu học, trung học đệ nhất cấp - cấp 2, và trung học đệ nhị cấp - cấp 3. Vì đó là dựa vào sự phát triển tâm lý trí não trẻ, mà các nhà giáo dục, nhà tâm lý học, và các nhà y học đã nghiên cứu trong hàng trăm năm để có được. Nhưng nước Việt 25 năm qua đã làm sai hoàn toàn về vấn đề viết sách giáo khoa cho trẻ ở bậc học phổ thông. Vì sao?


Tư duy quan sát và ghi nhận: Về y học và tâm lý học, trẻ ở tuổi từ sơ sinh đến 11 tuổi là tuổi mà sự phát triển tâm lý và tư duy chỉ ở tư duy quan sát và ghi nhận - tư duy 1 bước. Trẻ ở tuổi này, là tờ giấy trắng, người lớn vẽ màu hồng, nó sẽ màu hồng; người lớn vẽ màu đen trẻ sẽ là trang giấy máu đen. Tất cả vàng, chì, thiên thần hay ác quỷ trẻ đều nhận. Vì chúng chỉ quan sát và ghi nhận, nên chúng không biết nói láo. Ông bà mình có câu tục ngữ: "Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ" là vậy.


Ở lứa tuổi tư duy quan sát và ghi nhận là lứa tuổi mà toàn bộ 80% bộ nhớ của trẻ dùng để chứa tất cả những gì chúng quan sát và ghi nhận. Sau 11 tuổi trẻ chỉ còn đúng 20% bộ nhớ não bộ của mình để sử dụng cho phân tích và đưa ra giải pháp. 80% bộ nhớ đó, tùy theo hiện thực cuộc sống sau này, mà não bộ sẽ tự xóa bớt những dữ liệu thừa, rồi nhận những dữ liệu - files - cần thiết khác. Vì thế, trong y học và tâm lý học có cụm từ quên để mà nhớ- tức là quên cái cũ không hoặc ít dùng, ít ôn luyện để nhớ cái mới cần thiết hơn, nhưng khi cần thì biết chỗ mà tìm.






Chính vì thế ở lứa tuổi này, trẻ chỉ cần học để tiếp thu kiến thức khoa học thường thức, công dân giáo dục, văn để hoàn thiện ngôn ngữ, và toán chỉ ở toán số học, trẻ chưa thể nuốt trôi toán học có chữ số: a, b, c, x, y, z, ... - đại số. Giai đoạn này là giai đoạn trẻ tiếp thu ngôn ngữ thứ hai, thứ ba dễ dàng nhất. Bộ nhớ của não và các cơ quan phát âm của trẻ lúc này dành cho ngôn ngữ là thích hợp nhất. Vì sau 12 tuổi nó đã hoàn thiện cho mọi phát âm và nhét đầy dữ liệu, nên khó học ngôn ngữ hơn.


Một bài giảng toán lớp 3 trong chương trình cải cách giáo dục cho trẻ một tư duy nhai lại, mà không có tư duy phân tích và tư duy độc lập.


Chính vì hiểu sai tư duy và sự phát triển tâm lý của trẻ, nên sách giáo khoa sửa chữa từ thập niên 1990 đến nay bắt trẻ học đại số, biến trẻ thành loài nhai lại. Hơn 99% trẻ học một bài toán bậc nhất giải như cái máy, giải theo toán mẫu, theo dạng, mà trẻ không hiểu vì sao giải như thế? Trẻ làm sao hiểu biểu thức là gì, x là gì, tại sao phải nhân chia trước, cộng trừ sau? v.v... Trẻ học như con vẹt, trẻ không thành một trẻ sáng tạo. Nguy hiểm hơn, trẻ sẽ thành loại copy and paste thinking - tư duy sao chép - trong lúc trẻ đang sao chép cái khác cần sao chép hơn, người lớn lại bắt trẻ sao chép cái cần phân tích!


Chính vì điều này trẻ Việt 70 năm ở miền Bắc và 40 năm qua ở miền Nam cùng cả nước dù có giỏi đi du học đại học nước ngoài tiên tiến cũng bị mất hút trong rừng trẻ tài năng, sau đại học có hơn 9.000 giáo sư và 2 vạn tiến sĩ, nhưng không có phát minh, báo đăng nước ngoài thì lèo tèo vài mống, nông dân lại là những người có sáng kiến nhờ ít bị nền giáo dục này hãm hiếp trí não.


Bên cạnh dạy trẻ tư duy độc lập, giai đoạn này phụ huynh cần dạy trẻ biết sống độc lập, không để trẻ ngủ chung, dạy trẻ biết hỏi tại sao và lý giải cho trẻ như một người bạn.

Tư duy phân tích: Cũng từ nghiên cứu y học và tâm lý học cho thấy, đến tuổi 12 mà trẻ không hoặc chưa học ngoại ngữ thì học sẽ rất khó. Vì học ngôn ngữ cần phản xạ tập nhiễm, không cần phân tích. Nhưng đến lứa tuổi này tư duy trẻ đã chuyển sang tư duy 2 bước - tư duy phân tích: quan sát và ghi nhân để sau đó là phân tích sự kiện đã quan sát và ghi nhận.


Lứa tuổi này là lứa tuổi trẻ muốn khám phá, mạo hiểm và muốn chứng tỏ mình là người lớn - teenager - nên rất chướng. Bạo lực học đường bắt đầu từ lứa tuổi có tư duy phân tích này. Vì thế tiêu chuẩn dạy trẻ ngay từ lứa tuổi dưới 11, phụ huynh phải cần dạy cho trẻ theo 2 nguyên tắc sau:


1. Không gia trưởng khi trẻ đòi hỏi sai quấy, mà phải thuyết phục trẻ bằng cách giải thích có lý luận để như là một cách dạy trẻ phân tích đúng sai, có tư duy logic và độc lập.




2. Hoàn thiện ngôn ngữ thứ nhất và thứ 2 qua đọc và viết, sau khi đã hoàn thiện 2 kỹ năng nghe và nói tự nhiên ít nhất 2 ngôn ngữ ở lứa tuổi dưới 11.


Nếu phụ huynh dạy con theo cách gia trưởng cấm đoán trẻ làm cái này, và trẻ phải làm theo bố mẹ, mà không phân tích cho trẻ biết tại sao phải làm cho đúng ngay từ ấu thơ đến lứa tuổi này, thì chắc chắn con của bạn sẽ không là bạn của bạn. Trẻ sẽ không dám thổ lộ và chia sẻ điều chúng nghĩ. Trẻ sẽ đem những thầm kín này đi xả ở quán cà phê, tiệm internet, hoặc bạo lực học đường, thậm chí cả việc nghiện heroin và cướp của giết người, khi mà nhà trường không đủ sân chơi cho trẻ.


Trẻ lúc này mới bước sang loại toán có chữ số - đại số. Việc dạy đại số và các môn học khác thì, không nên dạy trẻ trở thành loại copy and paste thinking - tư duy sao chép - như 70 năm qua, mà phải dạy cho trẻ cách tư duy tại sao có đại số? Tại sao có lịch sử? tại sao có văn học? v.v... Tự trẻ sẽ hình thành tư duy độc lập sau những chữ tại sao, và trẻ sẽ nhìn vấn đề từ gốc rễ, hơn là chỉ biết giải bài văn mẫu, bài toán mẫu và trở thành thợ toán, thợ văn, thợ học thuộc lòng, chứ không thể là thầy, không thể là nhà phát minh!


Làm cha mẹ, và làm giáo dục ở lứa tuổi này là đặc biệt quan trọng trong việc tập dần cho trẻ có tư duy phản biện. Trẻ phải luôn biết hỏi loại câu hỏi 5ws: tại sao, thế nào, ai, ở đâu, cái gì? để chuẩn bị cho một thời kỳ tư duy sau tư duy phản biện.


Bên cạnh giáo dục tư duy, ở 2 giai đoạn này phụ huynh cần cho trẻ học kỹ năng sống, khoa học thường thức của những khoa học cơ bản có thực hành, thực nghiệm kèm theo. Giúp trẻ sinh hoạt cộng đồng, đưa trẻ hội nhập các nền văn hóa mới, để tư duy của trẻ là tư duy của một công dân toàn cầu dần thể hiện. Phụ huynh không nên chờ đợi đến đại học trẻ mới bắt đầu học các nền văn hóa khác trên thế giới, và sinh hoạt cộng đồng mà phải ngay lúc này. Đó là nền tảng để trẻ thành công sau này, vì không ai có thể thành công khi chỉ là một thần đồng đơn lẻ trong thời đại nền kinh tế tri thức như hôm nay.


Tư duy phản biện: Bắt đầu sang cấp 3 phổ thông, sau khi trẻ đã được giáo dục qua 2 loại tư duy quan sát ghi nhận và tư duy phân tích, thì trẻ vào một giai đoạn tư duy mới. Đó là tư duy phản biện.


Tư duy phản biện là một loại tư duy độc lập gồm 3 bước: quan sát ghi nhận sự vật hiện tượng, phân tích chúng, và sau đó đưa ra không chỉ 1 mà là nhiều giải pháp để giải quyết sự vật hiện tượng xảy ra với cuộc sống quanh trẻ.


Nếu ở 2 giai đoạn tư duy trước trẻ được trang bị tốt tư duy quan sát và ghi nhận trung thực, sau đó phân tích đúng sự việc hiện tượng. Và phụ huynh biết dạy trẻ suy luận có logic và giảng giải trẻ đầy đủ theo cốt lõi chân thiện mỹ thì giai đoạn này trẻ bắt đầu trở thành một công dân có ích cho bản thân, gia đình và xã hội.


Đưa ra giải pháp đúng với hiện thực sinh động cuộc sống trẻ đang sống là bài toán giải quyết mọi vấn đề trong môi trường sống của trẻ, nhằm trẻ dễ hội nhập vào cuộc sống dù rất gian khó, nhưng trên nền tảng nhân bản và khai phóng, chứ không bị cái xấu lôi cuốn, và tha hóa.


Từ tư duy phản biện có sẵn, chương trình phổ thông lúc này cũng đã hoàn thiện các môn xã hội học như lịch sử, địa lý, văn học, v.v... chương trình năm cuối cấp 3, xã hội học chỉ dành cho trẻ học Triết học - khoa học của tất cả khoa học. Nó là nền tảng để chuẩn bị cho trẻ đi đến tư duy sáng tạo cho những phát minh khi ở tuổi học trò, và sau này.


Tư duy sáng tạo và gầy dựng: Giai đoạn này là giai đoạn đỉnh cao của các bước tư duy. Các giải pháp được tư duy phản biện đưa ra sẽ làm ra những phát minh, những dự án khả thi, và làm được nhiều điều có ích cho bản thân, gia đình và nhân loại.


LUẬN

Trên thế giới, ở các quốc gia có nền giáo dục tiên tiến, chúng ta dễ dàng tìm thấy những thần đồng trở thành giáo sư ở tuổi vị thành niên cũng là nhờ vào giáo dục đúng với tâm lý phát triển của lứa tuổi, chứ không chạy tắt, đón đầu, nhồi trẻ học gạo, học vẹt, học bài mẫu để trẻ trở thành loại tư duy sao chép - copy and paste thinking.


Bà Lê Duy Loan sinh năm 1962, vượt biển sang Hoa Kỳ tháng 9/1975 và được xem là bộ não của Texas Instruments đang nói chuyện tại Stafford High School, Stafford Texas, để tạo lửa cho các thế hệ học sinh ở đây vào ngày 03/6/2010


Và người Việt trên thế giới cũng không thiếu những con người thần đồng trong gian khó. Tôi xin đơn cửa tấm gương của một nhà khoa học, nhà lãnh đạo của tập đoàn Texas Instruments đáng kính - Bà Lê Duy Loan. Bà đến nước Mỹ năm 13 tuổi, tiếng Anh một chữ không biết, nhưng đến 16 tuổi bà đã tốt nghiệp trung học với thứ hạng 1/336. Sau cử nhân ở University of Texas at Austin, bà đã làm việc cho tập đoàn và có 21 bằng sáng chế cấp quốc gia Hoa Kỳ, trong đó có 5 bằng có giá trị muôn đời. Bà Lê Duy Loan đã lập ra Sunflower Mission để về Việt Nam xây dựng giáo dục cho trẻ em nghèo. "Trong 10 năm, Sunflower Mission sẽ xây được 100 lớp học, tạo 10.000 học bổng cho học sinh Việt Nam từ tiểu học đến đại học". Và chỉ trong 4 năm thành lập, Sunflower Mission đã xây được 50 lớp học và tặng 2.200 học bổng cho học sinh, sinh viên nghèo.


KẾT


Để có những học sinh đoạt giải như những người thợ trong toán, lý, hóa, sinh học Olympic hay những nhạc công như Đặng Thái Sơn cho Việt Nam trong tương lai không khó, nhưng để có một Lê Duy Loan cho Việt Nam trong tương lai, thì nền giáo dục Việt và người dân Việt phải hiểu rằng giáo dục không phải tạo ra bộ nhai lại, mà phải tạo ra những bộ óc có tư duy sáng tạo và gầy dựng.


Go West FoundationKhuyến Học Việt đang gầy dựng một thế hệ qua dự án Ươm mầm tài năng Việt và Trung tâm giáo dục trẻ có tư duy theo chương trình giáo dục hiện đại nhất. Hy vọng nó sẽ thành hiện thực trong năm 2016 với những sự chung tay của những phụ huynh có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục con em mình.

Tại sao Việt Nam dùng lưới điện 50Hz





Thứ nhất, theo lịch sử để lại
Mình theo CNXH ở các nước Đông Âu nên dùng tần số 50Hz. Tần số 60Hz ở Mỹ và Nhật, chế tạo thiết bị với tần số 60Hz thì tốn kém vật liệu điện hơn.
Chỉ sau này mới theo Liên Xô. Thí dụ khoảng trước 1975, trong miền Nam sử dụng điện gia dụng 208V/127V, trung áp 15kV, 35 kV, cao áp 66kV, 220 kV. Sau mới thay đổi dần dần: mạng 208/127 nâng cấp lên thành mạng 380/220V. Mạng 66kV nâng cấp lên thành mạng 110 kV. Sau năm 75, rất nhiều nơi trong miền Nam vẫn theo tiêu chuẩn Pháp hoặc Mỹ, chứ không theo tiêu chuẩn Nga. Chẳng hạn độ rung vẫn tính theo mil hoặc inch/s, chứ không dùng μ m hoặc mm/s. Áp suất vẫn tính theo PSIG chứ không dùng bar hay kg/cm2. Phim chụp hình vẫn theo thang đo ASA chứ không theo thang DIN... Tuy nhiên tần số thì vẫn là 50Hz chứ không phải 60 Hz, vì vẫn phải kế thừa hệ thống ðiện cũ của Pháp để lại. Miền Bắc theo Liên Xô, nhưng vẫn phải kế thừa cái của Pháp để lại.
1. Tần số 50Hz hay 60 Hz mỗi một dải tần đều có những ưu và nhược điểm của nó tùy theo quan điểm của từng quốc gia mà người ta áp dụng. Theo mình dải tần từ 50Hz-60Hz là tần số phù hợp bởi vì :
- Tần số này vừa phải so với tốc độ quay của máy phát và số đôi cực, tần số này nếu tăng nhiều thì sẽ làm tăng tổn hao bậc cao và trong vật liệu tư, nhưng nếu giảm xuống nhiều thì các thiết bị chiếu sáng như đèn huỳnh quang sẽ rung vì thế tần số chỉ nằm trong khoảng 50, 60 hz. Từ xuất phát ban đầu như thế nên dải tần này được sử dụng cho đến nay. Việc chọn 50Hz; 60 Hz mà không phải 5; 52... là chỉ để tròn số.
- Tại sao Việt Nam sử dụng 50 Hz: Theo tôi là bởi hệ thống điện chúng ta có từ thời Pháp sử dụng 50Hz. Sau này thống nhất đất nước, các thiết bị điện và công nghệ đa số dùng đồ Liên Xô cũ có tần số 50Hz
.
Ưu điểm của tần số 60 Hz: tỷ số công suất/trọng lượng máy cao hơn, cùng một công suất thì máy 60hz nhẹ hơn. Bạn có thể thấy các máy điện trong máy bay ( tần số 400 Hz ) rất nhỏ gọn, một điều tối quan trọng trong hàng không, nhưng các lõi thép mạch từ phải tốt hơn. Còn tại sao ta dùng 50 Hz thì đương nhiên do lịch sử để lại, mà cũng chỉ có ít lựa chọn thôi: mua sắm máy điện nào dễ mua nhất. Trước đây ở miền Nam cũng có dùng một số động cơ, máy phát 60 Hz của Mỹ để lại, chuyển về chạy 50 Hz thì phải giảm tải vì lý do đơn giản: máy nóng, nó có tốc độ đồng bộ 3600 v/f , 1800v/f...
Có hai vấn đề chính khác nhau đó là:
1. Vấn đề bảo vệ
2. Khả năng truyền tải điện tới thiết bị của 60Hz lớn hơn 50Hz

Lý do như sau:
1. Vấn đề bảo vệ, với mạng 60Hz thì rơle bảo vệ và các thiết bị đóng cắt phải có thời gian nhanh hơn là thiết bị ở mạng 50Hz, Cụ thể như sau: với mạng 50Hz máy cắt hiện nay có thể cắt được ở 1.5 cycle (30ms), nhưng ở mạng 60Hz thì cũng 1.5 cycle (25ms). Vậy với một hệ thống phối hợp bảo vệ thì ở mạng 60Hz có thời gian yêu cầu nhanh hơn hệ thống 50Hz
2. Khả năng truyền tải: ở mạng 60Hz cũng trong 1s thì giá trị dòng điện hiệu dụng (RMS ) lớn hơn giá trị hiệu dụng dòng điện ở 50Hz, do vậy cùng hai động cơ giống nhau về kết cấu mọi cái, nhưng tần số làm việc khác nhau thì động cơ 60Hz có mômen đầu trục lớn hơn 50Hz.
Kết luận thì theo mình dùng mạng 50Hz hơn là 60Hz
Tại sao Việt Nam dùng lưới điện 50Hz
Lưới điện 50Hz ở nước ta là do điều kiện lịch sử để lại nhưng còn phù hợp với tình hình hiện tại do một số nguyên nhân sau:
-Trên thế giới hiện nay đa số các nước vẫn dùng lưới điện 50Hz, nên việc nhập khẩu hay xuất khẩu các thiết bị điện ở trong nước gặp thuận lợi hơn, bởi các thiết bị điện hoạt động đúng tần số là 1 yêu cầu kĩ thuật quan trọng.
-Tần số lớn hơn đòi hỏi cách điện của thiết bị cao hơn, tốn chi phí cho cách điện nhiều hơn.
- Các thiết bị như động cơ, MBA.. sẽ nhỏ gọn hơn nhưng vật liệu dẫn từ trong đó phải tốt hơn, giá thành thiết bị sẽ đắt hơn. Do đó, lưới điện hoạt động tần số cao chỉ phù hợp với một số nước phát triển.
Dùng 60 thì có lợi hơn, nhưng cũng có một số khó khăn: Dùng tần số 60 có cái hơi khó khăn hơn 50 là:
Đối với động cơ và máy phát:
Động cơ và máy phát phải chạy nhanh hơn. Vì thế thiết kế sẽ đắt tiền hơn do phải tính toán lực ly tâm cao hơn, lực ma sát cao hơn.
Đối với đường dây truyền tải và phân phối:
Trở kháng đường dây sẽ tăng hơn 20%, nên sụt áp sẽ cao hơn.
Dung kháng đường dây giảm 20%, nên ảnh hưởng lên lưới điện sẽ mạnh mẽ hơn.
Hiệu ứng bề mặt tăng lên, nên yêu cầu thiết diện dây cũng phải lớn hơn.
Đối với máy biến áp:
Sự cân đối giữa đồng và thép sẽ khác đi. Giảm được thép, giảm được khối lượng đồng nhưng không giảm được diện tích cửa sổ. Vì thế tổng trở máy biến áp sẽ thay đổi. Từ thông tản tăng lên.
dùng tần số 50 hay 60 tùy thuộc đặc điểm mỗi nước.Tuy vậy đa số thiết bị hiện nay đều dùng tần số 50,60 Hz.
Mình thấy còn một ưu nhược của hai hệ tần số này. Ngoài việc khác nhau về chế tạo thiết bị thì điện áp 220 50HZ tiết kiệm điện trong truyền tải điện năng hơn. Điện áp càng cao thì sụt giảm càng thấp. Tần số 50hZ và 60hZ mỗi cái có một ưu điểm. Thực ra cả hai đều có ưu nhược điểm riêng cả. Ngoài việc tần số và điện áp thì ngày xưa 220v 50 Hz còn đi kèm theo hệ thống điện có tiếp địa ( tiết kiệm dây trung tính) hệ thống 110v 60Hz thường không sử dụng tiếp địa. xét về mặt an toàn. Mặc dù độ nguy hiểm về điện là ở dòng điện nhưng chúng ta thường quy về áp. Hệ thống điện 110v 60 Hz thì an toàn hơn về điện áp và trong một số trường hợp an toàn hơn cả về sự cố chạm fa vì khi đó chạm 1fa nửa không bị tác động vì chúng ta đứng dưới đất mát của hệ thống điện lại không nối đất. Nhưng nhược điểm của nó là nếu fa sảy ra đứt tình trạng đó các thiết bị bảo vệ không tác động vì không sảy ra ngắn mạch đẫn đến hiên tượng không dc xử lý ngay.
Còn với 220v 50Hz có nguy hiểm hơn về điện áp. Hệ thống này sẽ nguy hiểm hơn khi chạm phải 1fa lửa nhưng bù lại nó lại có khả năng làm cho thiết bị bảo vệ tác động vì 1fa lửa chạm đất sẽ sảy ra ngắn mạch =>thiết bị bảo vệ tác động. Nếu chạm vào hai fa thì rất nguy hiểm. Khi dùng các thiết bị điện nhìn phích cắm có chút khác nhau 3 chân và 2 chân. Cần lưu ý nếu hệ thống điện đã có tiếp địa cho vỏ tốt việc nối vỏ vào chân mát là tốt nhất. Với hệ thống không tiếp địa thì bắt buộc phải dùng chân mát này vì nó tương đương với tiếp địa.
>>Giữa 60 Hz và 50Hz, không có hệ thống nào ưu việt hơn hệ thống nào.
Hệ 60 Hz sẽ tiết kiểm được một ít vật tư nguyên liệu chi khế tạo các thiết bị điện, nhưng sẽ bị tổn thất ðiện áp trên đường dây nhiều hơn. Lý do khi f tăng thì XL cũng tăng theo. Tổn thất trên đường dây sẽ tăng.
Các động cơ 60Hx sẽ phải chạy với tốc độ cao hơn nếu chạy 50 Hz. Do đó hệ thống cơ khí phải thiết kế tốt hơn, đắt tiền hơn.

Kết:
Trước đây các nước trên thế giới dùng 110V, Sau này khi nhu cầu sử dụng của dân tăng lên thì dòng điện bắt đầu tăng quá mức. Phải thay dây dẫn để chịu đựng dòng cao. Khi đó, một số nước chuyển sang sử dụng điện áp tăng gấp đôi, tức là 220V. Hệ thống điện nào càng nhỏ thì chi phí đổi sẽ không cao. Còn hệ thống nào quá lớn, chi phí đổi sẽ rất cao.
Mỹ ngày xưa đã đầu tư khá lớn về hệ thống điện hạ thế nên chưa muốn đổi. Hình như hiện giờ chỉ còn Mỹ là còn dùng điện 110V
Yếu tố chính trị là nguyên nhân mà mỗi nước lại có các lại sử dụng điện áp khác nhau , ngay cả ở điện trung thế và cao thế cũng có sự khác nhau giữa các nước.
Tần số phụ thuộc vào việc điều chỉnh Turbine thủy lực, chứ không có chuyện quay chậm do turbine cùi đâu nhé hôm nay ngồi tìm hiểu về turbine thì thấy quan trọng nhất một số phương trình becnuni và euler, ai thích tìm hiểu thêm về cái này thì đọc thủy khí động lực ứng dụng (cơ học chất lưu) và turbine thủy lực sẽ có cái nhìn tổng quan hơn.
 
Như trên đã nói chính là tần số nhỏ tổn hao lớn và hiệu suất kém khi sử dụng cho động cơ. Nó có cái lợi là trọng lượng động cơ nhỏ hơn nhưng tốc độ lại quá nhanh nên nguy hiểm cho người sử dụng. Muốn chạy ở tốc độ thấp phải quấn nhiều cực nên lợi không bằng hại. Vì vậy mà bên Mỹ phải chuyển xuống tần số 60HZ lúc đó tốc độ tối đa của động cơ chỉ gần bằng 3600rpm. Bên châu Âu sử dụng tần số 50HZ nên tốc độ tối đa của động cơ chỉ gần bằng 3000rpm. Ngoại trừ trên máy bay hay trên tên lửa, các cưa máy cầm tay là còn sử dụng tần số 400HZ để kích thước nhỏ gọn.
 
Còn vấn đề tại sao chọn 50hz hay 60hz thì chỉ là khi nghiên cứu người ta tối ưu hóa thôi, tại sao không dùng 55 thì hơi buồn cười vì ai chẳng thích dùng những con số lẻ cả, số chẵn dễ tính toán và thiết kế máy móc chả lẽ lại dùng 51 hay 52 sao :))
Sưu tầm

Sự thật khủng khiếp về lò vi sóng

Lò vi sóng là 1 thiết bị tiện lợi hay là sát thủ của sinh học và hủy hoại nguồn dinh dưỡng trong thực phẩm? Ngày càng có nhiều người đang đi tìm lời khuyên từ các chuyên gia sức khỏe và loại bỏ lò vi sóng ra khỏi bếp của mình vì những nguy hiểm mà nó mang lại với thực phẩm. 1 điều kỳ quặc đó là loài người là loài động vật duy nhất trên hành tinh này hủy hoại chất dinh dưỡng trong thực phẩm của họ trước khi ăn, và việc sử dụng lò vi sóng là 1 trong những hành vi này.

Lò vi sóng là nguồn gốc của năng lượng điện từ (1 dạng không ion hóa của phóng xạ) được tạo ra từ điện. Khi nó đi xuyên qua thực phẩm, nó kích thích sự di chuyển của các phân tử nước bên trong thực phẩm. Sự kích thích này khiến các phân tử ma sát vào nhàu và kết quả là làm tăng nhiệt độ lên.

Lò vi sóng sử dụng các hạt siêu nhanh để phát xạ (đúng theo nghĩa đen) vào nước có trong thức ăn và khiến nó sôi lên. Lò vi sóng không chỉ gây vô sinh với nam giới, mà nó còn làm biến đổi các protein quan trọng trong thức ăn khiến cho nó khó tiêu hóa.

Rất nhiều loài động vật tiêu thụ thức ăn ở dạng tự nhiên của nó, chưa bị chế biến, nhưng con người lại làm khác chúng bằng cách hủy hoại chất dinh dưỡng có trong thực phẩm trước khi ăn. Hãy nghĩ về các loại thực phẩm đóng hộp và thực phẩm đã được chế biến mà bạn đã mua và sử dùng hàng ngày. Dễ hiểu tại sao sức khỏe của bạn luôn trong tình trạng không ổn.


Click image for larger version

Name: 1.jpg
Views: 1
Size: 70.0 KB
ID: 56

1 lò phóng xạ đang ở ngay trong nhà bạn


Lò vi sóng sản sinh ra ion và rất nhiều gốc tự do về mặt vật lý, sinh hóa và cả sinh lý, chúng giết các vi khuẩn, nhưng không diệt được các độc tố và các độc tố siêu nhỏ. Các chuyên gia đã kết luận rằng thức ăn được nấu bằng lò vi sóng sẽ mất từ 60% - 90% dinh dưỡng cần thiết, và đồng thời làm tăng tốc quá trình làm tan rã các cấu trúc. Và các tính chất của chất dinh dưỡng bị thay đổi, dẫn đến các bệnh về tiêu hóa. Những chiếc lò vi sóng này có thể làm gia tăng số lượng tế bào ung thư trong máu cũng như trong bao tử và ruột.

Lò vi sóng bị rò rỉ phóng xạ là 1 vấn đề nghiêm trọng
Việc này nguy hiểm đến mức FDA phải đặt tiêu chuẩn giới hạn về mức độ rò rỉ cho phép trên mỗi chiếc lò vi sóng của từng nhà sản xuất. Tuy vậy, cách duy nhất để hoàn toàn loại bỏ mối nguy hiểm liên quan đến lò vi sóng đó là ngưng việc sử dụng nó lại. Phóng xạ của lò vi sóng được biết có thể gây ra bệnh đục thủy tinh thể, các bệnh về sinh sản, ung thư và các bệnh nghiêm trọng khác.

Vì những nguyên nhân này nên lò vi sóng đã bị cấm ở Nga từ năm 1976. Các nhà khoa học Nga nhận thấy rằng lò vi sóng làm giảm khả năng hấp thu vitamin của cơ thể khi ăn đồ ăn nấu trong đó, làm tăng sự phân hủy các kết cấu của tất cả thức ăn và giảm sự trao đổi chất của Alkaloid, Glycoside và Galactose.

Năm 1991, 1 bác sĩ người Thụy Sĩ Hans Ulrich Hertel đã làm 1 nghiên cứu cho thấy rằng thức ăn nấu bằng lò vi sóng có nhiều nguy cơ đến sức khỏe hơn là được nấu theo kiểu truyền thống. Ông nhận thấy là những người ăn thức ăn nấu bằng lò vi sóng bị giảm sút Hermoglobine Lymphocyte (1 loại bạch cầu).
Năm 2003, chính phủ Tây Ban Nha nghiên cứu tại Murcia chứng minh rằng rau quả và trái cây được nấu trong lò vi sóng mất đi đến......97% các chất giúp giảm các bệnh về tim.

Trong cuốn sách của tiến sĩ Lita Lee “Health Effects of Microwave Radiation – Microwave” và trong tạp thí Earthletter tháng 3 với 10/1991, bà cho biết tất cả các lò vi sóng đều bị rò rỉ phóng xạ điện từ, gây hại cho thức ăn và chuyển đổi các hợp chất trong thức ăn thành các chất độc cho cơ thể và gây ung thư.

Trong cuộc nghiên cứu so sánh thức ăn được nấu truyền thống và nấu bằng lò vi sóng được xuất bản bởi Raum & Zelt năm 1992 công bố:
“Các sóng vi ba nhân tạo, bao gồm các sóng được dùng trong lò vi sóng, được sản sinh từ dòng điện xoay chiều và ép hàng tỉ hoặc hơn sự đảo ngược phân cực mỗi giây trong các phân tử thức ăn mà nó tiếp xúc. Sự sản sinh các phân tử không tự nhiên là không thể tránh khỏi. Các amino axít tự nhiên bị thay đổi đồng phần (chuyển hình dạng) cũng như là bị biến đổi thành các dạng chất độc, dưới tác động của sóng vi ba được sản sinh ra trong lò vi sóng”.

Không có nguyên tử, phân tử hay tế bào của cơ quan nào có khả năng chịu được sức mạnh mang tính hủy diệt, phá hoại như thế trong 1 thời gian nhất định, ngay cả với năng lượng thấp cỡ miliwatt. Lò vi sóng nhanh chóng hủy diệt các phân tử vitamin mỏng manh và các Phytonutrient (chất có tác dụng chữa bệnh) có trong thức ăn. 1 nghiên cứu cho thấy rằng các rau quả được nấu trong lò vi sóng bị mất hết 97% hàm lượng dinh dưỡng (vitamin và các chất dinh dưỡng khác giúp ngăn chặn bệnh tật, tăng cường hệ miễn dịch và củng cố sức khỏe).


Click image for larger version

Name: 2.jpg
Views: 1
Size: 50.0 KB
ID: 57

Những gì còn lại sau khi bạn nấu chỉ là...rác vì đã mất hết chất dinh dưỡng


Tiến sĩ Hertel là nhà khoa học đầu tiên nghiên cứu và cho ra 1 số tài liệu y học về các tác hại của các chất dinh dưỡng đã bị biến đổi trong lò vi sóng có trong máu và sinh lý học với cơ thể người. Tài liệu này tuy ngắn nhưng được nghiên cứu chi tiết cho thấy sự giảm sút trầm trọng chất dinh dưỡng khi các thức ăn được nấu trong lò vi sóng. Các kết luận khoa học cho thấy rằng lò vi sóng thay đổi các chất dinh dưỡng trong thức ăn, và những chất này nếu đi vào máu sẽ đe dọa đến toàn bộ hệ thống cơ thể. Nghiên cứu khoa học của Hertel được thực hiện cùng với tiến sĩ Bernard H.Blanc của Hiệp hội công nghệ liên bang Thụy Sĩ và Hiệp hội đại học hóa-sinh.

12 tác hại của lò vi sóng

  1. Phá vỡ trường năng lượng sống nếu tiếp xúc với lò trong khi nó đang hoạt động, và hậu quả phụ đó là làm ảnh hưởng trường năng lượng này lâu hơn.
  2. Gây sụt giảm điện áp song song của tế bào trong suốt quá trình sử dụng thiết bị, đặc biệt là máu và bạch cầu.
  3. Làm giảm hoặc mất ổn định năng lượng có trong thực phẩm được sử dụng trong các quá trình trao đổi chất của cơ thể.
  4. Làm suy giảm hoặc phá hủy các khả năng của lớp màng tế bào nội sinh và làm biến dị các quá trình vào trong huyết thanh từ quá trình tiêu hóa.
  5. Làm suy giảm hoặc phá vỡ các xung điện thần kinh trong các vị trí liên kết của não (vị trí não trước nơi các suy nghĩ và chức năng cao hơn hoạt động)
  6. Suy giảm và phá vỡ các mạch điện thần kinh và làm mất cân bằng trường năng lượng trong Neuroplexuses (thần kinh trung ương) cả ở phía trước và 2 bên của trung ương và hệ thống thần kinh tự trị.
  7. Làm mất cân bằng sự tuần hoàn của sức mạnh điện sinh học trong hệ thống kích hoạt lưới tăng lên (hệ thống điều khiển các chức năng của nhận thức)
  8. Làm mất năng lượng sống tích lũy trong cơ thể người, động vật và thực vật trong bán kính 500 mét khi thiết bị hoạt động.
  9. Gây ra hiệu ứng lâu dài của từ trường bị dồn nén trong hệ thống thần kinh và hệ thống bạch huyết.
  10. Gây suy giảm hoặc ngưng quá trình sản xuất hormones và duy trì sự cân bằng hormones của nam và nữ giới.
  11. Gây nhiễu các sóng não ở cấp độ cao trong các dải sóng alpha, theta và delta nếu tiếp xúc trực tiếp với khu vực rò rỉ của thiết bị.
  12. Vì sự nhiễu loạn sóng não này, các hiệu ứng tâm lý tiêu cực sẽ xuất hiện, bao gồm mất trí nhớ, mất khả năng tập trung, dồn nén cảm xúc, giảm tốc độ nhận biết, và ảnh hưởng đến giấc ngủ khi liên tục tiếp xúc với khu vực rò rỉ của lò vi sóng, cho dù đó là thiết bị dùng để nấu nướng hay mục đích khác.
Hãy nhìn xem xung quanh bạn xem có ai còn dùng lò vi sóng hay không. Đa số họ đều không thật sự khỏe mạnh hoặc bị thừa cân. Bạn càng sử dụng lò vi sóng thường xuyên, hàm lượng dinh dưỡng bạn nhận được từ thức ăn càng thấp và bạn sẽ bị nhiều căn bệnh phải dùng đến dược phẩm, tất nhiên là nó sẽ gây ra nhiều vấn đề sức khỏe khác ngày càng trầm trọng hơn.

Click image for larger version

Name: 3.jpg
Views: 1
Size: 22.4 KB
ID: 58

Lò vi sóng là thứ bạn cần phải ném đi càng nhanh càng tốt


Trong tất cả các hợp chất tự nhiên – các loại có cực – thì oxy trong phân tử nước là nhạy cảm nhất với các phản ứng. Đó là cách lò vi sóng hoạt động – ma sát các phân tử nước này với nhau để sinh nhiệt. Cấu trúc của các phân tử bị xé ra, các phân tử bị biến dạng, gọi là các đồng phân, và vì thế gây thay đổi về chất lượng. Điều này là trái ngược với các cách nấu nướng thông thường, nhiệt được đi từ ngoài vào trong dần dần.

Nấu bằng lò vi sóng bắt đầu từ bên trong các tế bào và phân tử nơi có nước, và năng lượng được chuyển đổi thành nhiệt ma sát.
Đây là bản tóm tắt về cuộc điều tra của Nga, công bố bởi Trung tâm phát triển giáo dục Atlantis tại Portland, Oregon:

  • Thịt được nấu bằng lò vi sóng khi tiêu hóa sẽ sinh ra d-Nitrosodienthanolamines, đó là 1 chất gây ung thư.
  • Sữa và ngũ cốc nấu bằng lò vi sóng thì các amino axit sẽ bị chuyển đổi thành chất gây ung thư.
  • Trái cây được xả đông bằng lò vi sóng thì các Glucoside và Galactoside sẽ bị chuyển đổi thành các hợp chất gây ung thư.
  • Rau quả nấu bằng lò vi sóng thì các Ancaloit sẽ bị chuyển thành chất gây ung thư.
  • Các gốc tự do gây ung thư được hình thành trong rau củ quả, đặc biệt là các loại củ.
Các nhà nghiên cứu người Nga cũng báo cáo lại sự gia tăng của việc phá hủy các cấu trúc dẫn đến việc suy giá trị dinh dưỡng của thức ăn từ 60% - 90%.
  • Làm giảm hỗn hợp Vitamin B, C, E các khoáng chất thiết yếu và các nhân tố kích thích tiêu mỡ trong tất cả thức ăn.
  • Gây hại cho nhiều hợp chất có trong rau quả như là Ancaloit, Glucoside, Galactoside và Nitriloside.
Theo như tiến sĩ Lee, các thay đổi được theo dõi trong máu và tốc độ nhiễm bệnh của những người dùng lò vi sóng. Bao gồm các thay đổi sau:
  • Sự rối loạn bạch cầu dẫn đến khả năng mắc 1 số loại ung thư.
  • Làm gia tăng hệ tế bào ung thư ở trong máu.
  • Tăng khả năng bị ung thư bao tử và ruột.
  • Tăng khả năng mắc các triệu chứng tiêu hóa và dần dần phá hủy hệ thống bài tiết.
Giảm giá trị dinh dưỡng thực phẩm
Sử dụng lò vi sóng sẽ làm giá trị dinh dưỡng của tất cả thực phẩm bị giảm sút nghiêm trọng. Các nghiên cứu chỉ ra rằng:

  • Giảm tính sinh khả dụng (khả năng cơ thể sử dụng chất dinh dưỡng) của Vitamin B, C, E các khoáng chất thiết yếu và chất kích thích tiêu mỡ trong mọi loại thức ăn.
  • Mất 60% - 90% năng lượng quan trọng trong thức ăn.
  • Suy giảm sự trao đổi chất và khả năng tổng hợp của Alkaloid (1 nguyên tố dựa trên Nitơ hữu cơ), glucoside, galactoside và nitriloside.
  • Phá hủy giá trị dinh dưỡng của Nucleoprotein trong các loại thịt.
  • Đẩy nhanh sự phá hủy cấu trúc trong tất cả thực phẩm.
Cách làm nóng thực phẩm 1 cách lành mạnh
Thật ra, có lẽ ngoại trừ cách loại trừ nước, không còn cách nào để làm nóng thức ăn mà vẫn giữ được cấu trúc và giá trị dinh dưỡng như ban đầu. Tuy nhiên, hâm nóng thức ăn 1 cách vừa phải trong 1 cái nồi sắt trên bếp lửa có lẽ là cách tốt nhất. Đây là cách cổ điển mà tổ tiên chúng ta đã làm rất hiệu quả.


Click image for larger version

Name: 4.jpg
Views: 1
Size: 31.5 KB
ID: 59

Cách cổ điển dường như là tối ưu nhất



Hãy vứt lò vi sóng đi và cố gắng tìm cách ăn ít nhất ½ khẩu phẩm là thực phẩm sống, vệ sinh, đó là 1 bước tiến lớn để giữ được giá trị dinh dưỡng của thực phẩm. Mẹ của tôi luôn dạy rằng các loại thực phẩm đóng gói, cần phải được nấu hoặc làm nóng trước khi ăn thì hàm lượng dinh dưỡng sẽ rất thấp. Bà ấy đã đúng, vì vậy hãy ghi nhớ điều này khi bạn đi mua sắm thực phẩm lần tiếp theo.

Chuyển dịch bởi Huỳnh Thanh Long
Bản gốc tiếng Anh: http://cellularinnergy.com/12-facts-...terminate-use/

Lắc ru, xốc nựng con: Yêu thương không khoa học

Chúng ta có thói quen tung hứng, nựng lắc con khi vui đùa và cũng có lần “dỗ nín” đứa trẻ bằng rung nựng, ru ầu ơ, thậm chí còn xốc lắc, tát dọa để răn đe khi trẻ làm nũng, chướng nghịch… Trong thơ văn, người ta thi nhau ca tụng sự đong đưa của cái nôi, cái võng… Ngược lại trong y học, các bác sĩ, điều dưỡng nhi khoa kinh nghiệm lại rất sợ và khuyến cáo không nên có các động thái rung nựng, xốc lắc này.

Rung nôi, xốc lắc có hại cho trẻ con!
Hội chứng “trẻ bị lắc” (Shaken Baby Syndrome, SBS) còn gọi “tổn thương não lạm dụng” (Abusive Head Trauma, AHT) là một hội chứng bệnh lý cũng hay gặp, nhưng thường bị bỏ sót qua vì không được chú ý, kể cả các bác sĩ chuyên nhi.
Tuy chưa có thống kê chính xác, nhưng theo các chuyên gia của CDCP (Center for Disease Control and Prevention) thì tần suất bị chết do hội chứng “trẻ bị lắc” đến khoảng 2.000 đứa trẻ hằng năm ở Mỹ.

Hội chứng trẻ bị lắc SBS này thường gặp ở trẻ dưới 2 tuổi, nhiều nhất là từ sơ sinh cho đến 8 tháng. Hai đặc điểm cơ thể học ở độ tuổi này là: (1) khối cơ cổ rất yếu, chưa đủ sức giữ vững cái đầu và (2) đầu đứa trẻ khá lớn và nặng so với toàn thân, đầu chiếm đến một phần tư cơ thể, khối não chưa phát triển gì nhiều lại nằm trôi nổi trong môi trường dịch não tuỷ bao bọc chung quanh.
Khi bị lắc rung mạnh, đặc biệt khi bị “tung hứng”, quay “vòng vòng” quá mức, khối não sẽ di chuyển theo quán tính vật lý và có thể va đập vào hộp xương sọ với những hậu quả là não bị sưng phù, áp lực nội sọ tăng lên và tổn thương các mạch máu lớn nhỏ của não…
Những tổn thương này khi đã xảy ra, chắc chắn sẽ để lại nhiều di chứng thần kinh lâu dài sau này cho đứa trẻ, nhẹ có thể là chậm phát triển tinh thần, mất khả năng nói năng, học tập… nặng hơn có thể xuất huyết võng mạc mắt và có thể gây giảm thị lực hoặc mù, điếc, liệt thần kinh, co giật, thậm chí đã có trường hợp trẻ bị tử vong.
Những dấu hiệu báo động
Những tổn thương thần kinh và mạch máu do rung lắc thường kín đáo, nên khó phát hiện ra ngay, cũng có khi đứa trẻ không có biểu hiện gì dù có tổn thương thật sự.
Tùy theo mức độ nặng nhẹ của tổn thương, những dấu hiệu của bệnh sẽ xuất lộ khác nhau: (1) nhẹ đứa trẻ sẽ giảm linh hoạt, lờ đờ, ngủ gà ngủ vịt, không mỉm cười, (2) nặng hơn trẻ sẽ không nhìn thấy, co giật, nôn mửa (3) trầm trọng trẻ sẽ ngừng thở, tím tái, hôn mê… nếu không cấp cứu kịp trẻ có thể tử vong. Cần nhanh chóng nếu phát hiện những dấu hiệu này để kịp thời cứu đứa trẻ.
Ý kiến của những chuyên gia về nằm nôi, xốc lắc
Rất nhiều chuyên gia về nhi không đồng tình với việc chăm sóc con bằng nôi, võng thông thường và lên án mạnh việc xóc lắc trẻ nhỏ:
Theo GS.TSKH Nguyễn Thu Nhạn, Phó Chủ tịch Hội Nhi khoa Châu Á, Chủ tịch Hội Nhi khoa Việt Nam hiện nay dù chưa có công trình khoa học chứng minh việc nằm nôi có ảnh hưởng đến phát triển thần kinh đứa trẻ, nhưng nếu ru lắc, xốc bế mạnh có thể làm giao đông mạnh não, trẻ sẽ bị “say” thăng bằng.
PGS.TS Ninh Thị Ứng, Trưởng Khoa Thần kinh, Viện Nhi TƯ nhận định, trẻ em dưới 1 tuổi không nên nằm nôi vì não chưa phát triển hoàn chỉnh, chưa ổn định trong hộp sọ.
 TS.BS Nguyễn Công Nghĩa, BV Phụ Sản Hà Nội, hội chứng trẻ bị lắc rất khó nhận biết nếu không khám kỹ lưỡng, nhưng phòng bệnh lại rất đơn giản.
Để khỏi bị “hội chứng trẻ bị lắc”
Như tên gọi, hội chứng trẻ bị lắc là hậu quả của việc lắc xốc quá nhanh, quá mạnh và đột ngột cái đầu đứa trẻ. Cho nên để ngăn ngừa “hội chứng trẻ bị lắc” cần tránh những động tác xốc lắc, giật mạnh làm thay đổi đầu đứa trẻ một cách đột ngột như: (1) bế thốc ngược, (2) xốc vác trẻ gấp gáp, vội vàng, (3) tung hứng trẻ thái quá (4) tát tai, (5) đánh đá trẻ vào đầu mặt.
Người lớn, bố mẹ, người vú em, nuôi dạy trẻ cần lưu ý khi chơi đùa với trẻ đừng vì quá vui, quá giận, mất bình tĩnh, dễ gây những động tác xốc lắc quá trớn, bạt tai đứa trẻ vô tình gây ra hội chứng bị lắc (SBS) có hại cho phát triển thần kinh trẻ em.
TS.BS Trần Bá Thoại

Tình yêu 'lồng ấp' của cha mẹ Việt

Nhiều người không khỏi "thấy buồn và thấy thương" khi nhìn cậu học sinh này ngồi yên để phụ huynh đẩy, trong bức ảnh của một facebooker chụp chiều tối ngày 15/9 khi Sài Gòn mưa lớn. Bức hình nhận được hàng trăm lượt like, bình luận và chia sẻ trên nhiều trang mạng.
Người đồng cảm cho rằng đó là hành động bình thường của cha mẹ vì ai cũng thương con. Người thì băn khoăn, cha mẹ đã lo lắng và nuông chiều con thái quá, tạo điều kiện cho con không biết làm gì và bất hiếu.
 
nguoi-me-a-5743-1442485067.jpg
Cậu con lớn tướng ngồi yên trên xe cho phụ huynh gồng mình dắt qua vùng nước lội - Ảnh: Quy Coc Tu.
Nickname Hoài Phương trên một diễn đàn nhận xét: "Có nhiều gia đình do nuôi con quá kỹ, sợ cái này, sợ cái kia nên lúc nào cũng kè kè bên con. Cũng vì thế mà nhiều bạn bị hội chứng công tử bột, không thể tự làm gì hết, không biết chạy xe vì mẹ lo con chạy xe ngoài đường nguy hiểm nên không cho, không biết chủ động làm việc gì hết, có thể gọi là khờ. Mình có đứa bạn học xong phổ thông không biết chạy xe, không dám tự một mình qua đường, không phải vì nó bệnh gì hết, nó cao to và học rất giỏi là khác nhưng nó lại thiếu kinh nghiệm sống khi ra đời vì gia đình quá khắt khe, bao bọc con quá kỹ".
Thường xuyên có các cuộc khảo sát nghiên cứu cũng như tư vấn các vấn đề gia đình và nuôi dạy con, thạc sĩ - bác sĩ Nguyễn Lan Hải (cố vấn chuyên môn của Hội quán các bà mẹ) nhận xét rằng: "Người Việt Nam có tuổi thơ dài nhất thế giới" vì cha mẹ quá bao bọc con. Không chỉ bao bọc khi con còn nhỏ, mà khi con đã trưởng thành, cha mẹ vẫn can thiệp vào cuộc sống của con từ những chuyện lớn như cưới vợ gả chồng, xây nhà mua đất đến rất nhiều việc cỏn con khác như đi chơi, ăn uống hàng ngày".
Tiến sĩ Vũ Thu Hương (giảng viên khoa Tiểu học trường đại học Sư phạm Hà Nội) đưa ra nhiều ví dụ về sự bao bọc này:
Ở tuổi mầm non, cha mẹ không cho con làm bất cứ việc gì. Trong khi nhiều trẻ em nước ngoài đã tập ăn bốc từ 7, 8 tháng tuổi, một tuổi rưỡi đã tự xúc ăn thành thạo thì trẻ Việt vẫn được cha mẹ hay ông bà đút cho ăn đến 3-4 tuổi vì sợ không đút thì trẻ lười ăn, hay trẻ tự xúc thì làm bẩn, thu dọn còn mệt hơn. Nhiều cha mẹ vẫn xem tiêu chí cô có chăm đút cho con ăn không khi quyết định gửi con vào trường mầm non. 
Hình ảnh quen thuộc với trẻ tiểu học là con vung tay đi đằng trước, bố mẹ khệ nệ xách túi của mình và xách cặp cho con. Nhiều cha mẹ cầm cặp hộ con vì sợ cặp nặng, nhưng thực ra, trẻ em tiểu học Đức vẫn tự xách cặp dù cặp của bọn nhỏ khi chưa có sách cũng nặng 5 kg, với đầy đủ hộp cơm trưa, chai nước, áo mưa.
Khi con học cấp hai, hình ảnh những đứa trẻ đã cao to hơn cả bố mẹ ngồi sau xe để mẹ đèo là một minh chứng rõ cho sự bao bọc con của người Việt. Trong những ngày mưa, những cô cậu học sinh cấp 2 nặng 50 ký vẫn ngồi yên trên xe để bố, mẹ dắt bộ đẩy xe một mình trong nước không phải là quá hiếm.
Cấp ba, con đi thi, bố mẹ lo làm giấy tờ thủ tục cho con từ A đến Z. Ngày con thi, không chỉ đưa đón con, bố mẹ còn lo từng cái bút, tờ giấy, con sai số báo danh cũng gọi điện nhờ bố mẹ can thiệp.
xettuyen-4605-1442480222.jpg
Những hình ảnh cha mẹ song hành cùng con trong các buổi xét tuyển đại học năm nay thế này không phải là hiếm. Ảnh: VnExpress.
Khi con vào đại học, đã qua 18 tuổi nhưng bố mẹ vẫn thấy con chưa lớn. Tiến sĩ Vũ Thu Hương vẫn còn nhớ trường hợp một sinh viên năm ba của mình nằng nặc xin không được đi thực tế tại Sapa hai ngày vì “mẹ không cho đi”. Sau đó, vị phụ huynh này còn đến tận lớp, nhất định xin cho con ở nhà dù con sức khỏe bình thường, lực học giỏi. Cuối cùng, khoa phải đồng ý để sinh viên này làm bài tập lớn bù cho chuyến đi.
Khi con đi làm đã tự nuôi sống được mình, nhiều bố mẹ vẫn đích thân trực tiếp xin sếp cho con những việc nhỏ xíu như nghỉ phép.
Tiến sĩ Vũ Thu Hương cho rằng, thực ra, tâm lý bọn trẻ không thích được cha mẹ bao bọc kỹ quá. Trẻ sẽ cảm thấy hạnh phúc và tự hào khi được bố mẹ tin tưởng và giao trách nhiệm cho mình. Bà cho rằng bao bọc là thương con nhưng cũng là một biểu hiện của sự thiếu tin tưởng vào con. Cha mẹ bao bọc quá dễ dẫn con đến tâm lý ỷ lại người khác và sẽ khiến con gặp khó khăn khi ra đời. Những đứa trẻ được bao bọc, sau này nếu sang địa phận khác (tỉnh khác, nước khác), ở nhờ nhà họ hàng thường dễ gặp vấn đề với chủ nhà. Khi phải đi làm kiếm tiền, chúng sẽ luôn thấy mình vất vả, giống như đang bị sếp hành hạ. Bao bọc con quá chính là cha mẹ đã làm hạn chế khả năng vượt khó và vươn lên của con.
Mọi người vẫn hay nói: “Con cái luôn luôn bé trong mắt bố mẹ”, tiến sĩ giáo dục cho rằng, như thế là bố mẹ sai rồi. Lúc con mới sinh, có thể con yếu ớt, chưa biết làm gì, muốn gì cũng chỉ khóc. Tuy nhiên, con trẻ đã lớn rất nhanh, suy nghĩ của cha mẹ đã không theo kịp sự phát triển của con.
Có một câu chuyện buồn mà bà Hương vẫn còn nhớ. Một cậu học sinh cấp hai vốn được mẹ chăm bẵm, lo cho mọi thứ. Khi mẹ ốm, thay vì thương mẹ, cậu ta hậm hực, tại sao mẹ lại ốm để không ai nấu cơm cho mình. Sự bao bọc của mẹ đã vô tình khiến đứa trẻ ích kỷ và không trưởng thành trong suy nghĩ, tình cảm.
Kim Kim

Căn bệnh tưởng như giả vờ của người công nhân

Một triệu chứng bệnh lần đầu được biết 

Nam bệnh nhân nằm trên băng ca tỉnh táo thoải mái nói chuyện với đồng nghiệp, trong khi mới vài phút trước kíp bác sĩ trực cấp cứu được cảnh báo ca bệnh nan giải. 
Trước đó không lâu, bệnh nhân đang làm việc thì đột nhiên đau đầu trán rồi như người mù không nhìn thấy không hay biết gì cả trong vòng một phút, cảm giác tê rần nửa người bên trái. Nhìn đồng nghiệp bỗng dưng sững sờ như chết đứng, các công nhân lo lắng đưa ông vào Bệnh viện đa khoa Mỹ Phước cấp cứu. Vào đến viện, bệnh nhân trở lại bình thường như chưa có gì bất thường xảy ra.
Kết quả thăm khám bác sĩ không phát hiện dấu hiệu lạ, các xét nghiệm đều cho thấy trong giới hạn cho phép, chụp MRI sọ não cũng bình thường. Bác sĩ trực cấp cứu chẩn đoán bệnh nhân bị hội chứng Hysteria, tức rối loạn phân lý. Ghi bệnh án xong, bác sĩ trực cấp cứu vẫn không an tâm nên phải mời bác sĩ thần kinh Nguyễn Quang Vy từ khoa thần kinh đến kiểm tra tình trạng bệnh nhân.   
Đến khoa cấp cứu, bác sĩ Vy thoáng chút ngạc nhiên khi thấy nam bệnh nhân nằm trên băng ca nói chuyện tỉnh táo với hai người công nhân mặc đồng phục cùng công ty. Thăm khám thêm vẫn không thấy bệnh nhân có động thái khác lạ khiến thầy thuốc càng không thể vội vàng đưa ra chẩn đoán. Bác sĩ Vy lân la dò hỏi tiền sử, thì ra đây không phải lần đầu mà là lần thứ ha bệnh nhân gặp tình huống tương tự. Lần gần đây nhất cách đây 7 ngày, lần đầu tiên cách đây 4-5 tháng.  
Bệnh nhân không có ảo giác, ảo thanh, cuộc sống tạm hài lòng, không có điều gì phải băn khoăn, kiểm tra sức khỏe định kỳ thì không phát hiện bệnh gì. "Vì vậy không phải Hysteria như bác sĩ cấp cứu nghĩ. Cũng không phải cơn thoáng thiếu máu não vì không thấy yếu tố nguy cơ, loại trừ luôn tình trạng loạn thần", bác sĩ Vy phân tích tỉ mỉ để loại trừ dần các khả năng bệnh. 
Ông đi đến kết luận: “Bệnh nhân bị động kinh cảm giác, vì đã 3 lần diễn biến hoàn toàn giống nhau với triệu chứng đau đầu vùng trán và mù đột ngột, mất ý thức từng cơn khoảng gần một phút, sau cơn có dấu hiệu định vị thần kinh với triệu chứng tê nửa người bên trái".
Thông thường hệ thần kinh được chia thành hệ vận động và hệ cảm giác. Bệnh nhân gặp cơn động kinh ở hệ vận động với các biểu hiện rõ ràng thì bác sĩ sẽ dễ dàng nhận biết. Trường hợp bệnh nhân động kinh cảm giác sẽ khó nhận biết, đặc biệt khi đã qua cơn nên ngay cả bác sĩ dạn dày kinh nghiệm cũng có thể bỏ sót dấu hiệu. Thông thường, để chẩn đoán bệnh này, bác sĩ chỉ định đo điện não để bắt được sóng động kinh, tốt nhất là ngay trong cơn. 
Bệnh nhân động kinh phải uống thuốc liên tục một tháng hoặc 3 tháng hay một năm, nếu vẫn còn lên cơn thì phải uống thuốc suốt đời. Một khi không kiểm soát tốt động kinh từ đầu, sau này các cơn sẽ dồn dập hơn. Nếu không điều trị, rủi ro bệnh nhân lên cơn khi đang đứng máy, chạy xe... thì hậu quả sẽ khó lường.
Giải thích cặn kẽ những nguy cơ này cho bệnh nhân, người nhà và những người làm chung công ty, bác sĩ Vy dặn dò những việc cần phòng tránh và can thiệp khi xuất hiện cơn động kinh. "Chỉ sợ bệnh nhân vì cảm nhận cơ thể bình thường mà phải uống thuốc hàng tháng nên sẽ tự ý bỏ dở điều trị", vị bác sĩ với 25 năm chuyên khoa thần kinh thầm lo khi dõi mắt nhìn bệnh nhân ra về.
Lê Phương